Định giá

Cách định giá phí sang quán cafe: công thức và 3 ví dụ minh hoạ

Công thức định giá phí sang quán cafe gồm khấu hao thiết bị, decor theo hợp đồng còn lại, tiền cọc và hệ số vô hình, kèm 3 ví dụ từ 80 đến 500 triệu đồng.

Ban biên tập Sang Nhượng F&B24/08/20267 phút đọc

Giá sang quán cafe trên tin đăng thường được đặt theo cảm tính của bên sang: số tiền đã bỏ ra, cộng thêm kỳ vọng lời. Bên nhận cần 1 công thức độc lập để tính ngược từ tài sản và lợi nhuận thực tế, sau đó so sánh với giá chào. Bài viết trình bày công thức 4 thành phần và 3 ví dụ minh hoạ ở 3 phân khúc phổ biến.

Công thức 4 thành phần

Phí sang hợp lý = Thiết bị còn lại + Decor còn lại + Tiền cọc chuyển giao + Phần vô hình

Thiết bị còn lại

Giá trị thiết bị = Giá mua × (1 − Số năm đã dùng ÷ Số năm khấu hao)

Thời gian khấu hao tham khảo: máy pha, máy xay, tủ mát, máy làm đá 5 năm; máy POS, loa, camera 3 năm; bàn ghế gỗ, quầy inox 5–7 năm. Thiết bị đã hết khấu hao nhưng còn chạy tốt chỉ tính theo giá thanh lý, thường thấp hơn nhiều so với giá mua. Thiết bị do nhà cung cấp đặt tại quán không được tính.

Decor còn lại

Giá trị decor = Chi phí thi công × (Số tháng thuê còn lại ÷ Tổng số tháng thuê tính từ lúc thi công)

Decor gắn vào mặt bằng nên chỉ có giá trị trong thời gian thuê. Công thức trên phân bổ đều chi phí thi công theo toàn bộ thời hạn thuê mà bên sang đã có khi làm decor. Nếu hợp đồng thuê còn rất ngắn, phần decor gần như không còn giá trị với bên nhận, bất kể quán trông mới đến đâu.

Tiền cọc chuyển giao

Tính đúng bằng số tiền cọc ghi trong hợp đồng thuê, với điều kiện chủ nhà xác nhận bằng văn bản sẽ chuyển khoản cọc sang cho bên nhận. Nếu chủ nhà không xác nhận hoặc yêu cầu cọc mới, khoản này bằng 0.

Phần vô hình

Phần vô hình = Lợi nhuận ròng bình quân tháng (đã kiểm chứng) × Hệ số H

Lợi nhuận ròng là doanh thu trừ toàn bộ chi phí, kể cả tiền thuê, lương, điện nước, nguyên liệu và 1 khoản lương hợp lý cho người quản lý quán. Hệ số H phụ thuộc thời gian thuê còn lại:

Hợp đồng thuê còn lại Hệ số H tham khảo
Dưới 12 tháng 0–0,5
12–24 tháng 0,5–1,5
24–36 tháng 1,5–2,5
Trên 36 tháng 2,5–3,5

Bảng hệ số trên là khung tham khảo do Ban biên tập đề xuất để tính nhanh, không phải số liệu thống kê. Trong mỗi khoảng, chọn mức thấp khi lợi nhuận biến động mạnh giữa các tháng, khi tài khoản ứng dụng giao hàng không chuyển được, hoặc khi doanh thu phụ thuộc vào người pha chế chính sẽ nghỉ.

Ví dụ 1: quán cafe nhỏ ngoại thành, khoảng 80 triệu đồng

Ví dụ minh hoạ: quán cafe mang đi kết hợp chỗ ngồi vỉa hè ở ngoại thành TP.HCM, tiền thuê 7 triệu đồng/tháng.

Thành phần Dữ liệu Giá trị
Thiết bị Mua 75 triệu đồng, đã dùng 2 năm, khấu hao 5 năm 45 triệu đồng
Decor Thi công 40 triệu đồng, hợp đồng 48 tháng, còn 18 tháng 15 triệu đồng
Tiền cọc 2 tháng × 7 triệu đồng, chủ nhà xác nhận chuyển giao 14 triệu đồng
Vô hình Lợi nhuận 8 triệu đồng/tháng × H = 1 8 triệu đồng
Tổng 82 triệu đồng

Mức 82 triệu đồng nằm trong khoảng 60–100 triệu đồng quan sát trên tin đăng cho phân khúc này. Nếu bên sang chào 120 triệu đồng, phần chênh gần 40 triệu đồng cần được giải thích bằng tài sản hoặc lợi nhuận cụ thể.

Ví dụ 2: cafe decor nội thành, khoảng 300 triệu đồng

Ví dụ minh hoạ: cafe có đầu tư decor chụp ảnh ở nội thành, tiền thuê 30 triệu đồng/tháng.

Thành phần Dữ liệu Giá trị
Thiết bị Mua 150 triệu đồng, đã dùng 2 năm, khấu hao 5 năm 90 triệu đồng
Decor Thi công 200 triệu đồng, hợp đồng 60 tháng, còn 36 tháng 120 triệu đồng
Tiền cọc 2 tháng × 30 triệu đồng, chủ nhà xác nhận chuyển giao 60 triệu đồng
Vô hình Lợi nhuận 15 triệu đồng/tháng × H = 2 30 triệu đồng
Tổng 300 triệu đồng

Với quán decor, phần decor thường chiếm tỷ trọng lớn nhất. Bên nhận cần kiểm tra 2 điều: hợp đồng thuê còn lại có thực sự 36 tháng và chủ nhà có cam kết giữ giá thuê không, và decor có phù hợp với concept bên nhận định vận hành. Nếu bên nhận định làm lại toàn bộ, phần decor 120 triệu đồng gần như mất giá trị và cần được trừ khỏi giá.

Ví dụ 3: cafe 2 tầng, khoảng 500 triệu đồng

Ví dụ minh hoạ: cafe 2 tầng mặt tiền đường lớn, tiền thuê 35 triệu đồng/tháng.

Thành phần Dữ liệu Giá trị
Thiết bị Mua 250 triệu đồng, đã dùng 3 năm, khấu hao 5 năm 100 triệu đồng
Decor Thi công 300 triệu đồng, hợp đồng 72 tháng, còn 54 tháng 225 triệu đồng
Tiền cọc 3 tháng × 35 triệu đồng, chủ nhà xác nhận chuyển giao 105 triệu đồng
Vô hình Lợi nhuận 25 triệu đồng/tháng × H = 3 75 triệu đồng
Tổng 505 triệu đồng

Ở quy mô này, khoản cọc 105 triệu đồng là phần có thể thu hồi khi hết hợp đồng, nên chi phí thực sự của bên nhận là khoảng 400 triệu đồng. Nếu chủ nhà không đồng ý chuyển cọc mà yêu cầu cọc mới, bên nhận vừa trả phí sang, vừa phải đặt thêm 105 triệu đồng; giá sang khi đó cần giảm tương ứng.

5 lưu ý khi áp dụng công thức

  1. Chỉ dùng lợi nhuận kiểm chứng được. Doanh thu phải khớp giữa báo cáo máy POS, sao kê ngân hàng và lượng nguyên liệu nhập. Lời kể không phải căn cứ.
  2. Tính lợi nhuận sau khi trả lương quản lý. Nhiều quán nhỏ có lãi chỉ vì chủ quán tự đứng quầy mà không tính lương.
  3. Kiểm tra giá thuê khi gia hạn. Nếu chủ nhà dự kiến tăng giá thuê, lợi nhuận tương lai giảm và hệ số H phải hạ.
  4. Thiết bị hỏng tính bằng 0 kèm chi phí sửa. Chạy thử tại chỗ từng máy trước khi chốt.
  5. Giá chào lệch quá 20–30% so với kết quả tính cần được giải trình. Đây không phải lý do để từ chối ngay, nhưng là căn cứ để yêu cầu bên sang đưa thêm chứng từ.

Công cụ "Định giá phí sang" trên Sang Nhượng F&B áp dụng đúng cấu trúc 4 thành phần này, giúp bên nhận và bên sang cùng nhìn vào 1 bảng tính thay vì tranh luận quanh 1 con số tổng.

Câu hỏi thường gặp

Có nên trả phí sang cao cho quán cafe có vị trí đẹp nhưng đang lỗ không?

Phần vô hình của quán đang lỗ gần bằng 0, nên giá hợp lý chỉ gồm thiết bị, decor còn lại và tiền cọc chuyển giao. Vị trí đẹp đã được phản ánh trong tiền thuê; trả thêm cho vị trí là trả 2 lần cho cùng 1 lợi thế.

Hệ số H có áp dụng cho quán trà sữa không?

Có thể áp dụng cùng cấu trúc. Với quán trà sữa phụ thuộc nhiều vào đơn qua ứng dụng giao hàng, nên chọn mức thấp trong khoảng nếu tài khoản ứng dụng không chuyển được cho bên nhận.

Bên sang tự tính giá theo tổng tiền đã đầu tư có hợp lý không?

Tổng tiền đã đầu tư chỉ phản ánh chi phí trong quá khứ, không phản ánh giá trị còn lại. Thiết bị đã khấu hao và decor đã dùng hết 1 phần thời hạn thuê, nên giá sang hợp lý gần như luôn thấp hơn tổng vốn ban đầu, trừ khi quán có lợi nhuận tốt và hợp đồng thuê còn dài.

Bài liên quan

Tất cả bài →